Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2016

THOÁT VỊ LỖ BỊT





bệnh nhân nữ, 80 tuổi
Địa chỉ: Vĩnh Thái – Nha Trang – Khánh Hòa
Ngày vào viện: 10h44 ngày 13/9/2013
Ngày bình bệnh án: 26/9/2013
Lý do vào viện: đau bụng
Bệnh sử: bệnh khởi phát cách nhập viện 2 ngày với đau bụng từng cơn kèm nôn mửa nhiều lần, bí trung đại tiện. ở nhà chưa điều trị gì.
Tiền sử: mổ cắt ruột thừa viêm đã lâu
Tiền sử gia đình: bình thường
Khám lúc vào viện:
12h00 ngày 13/9/2013
Mạch: 120 l/p, HA: 120/70 mmHg, T: 37°C
Tỉnh táo, thể trạng gầy yếu, đau bụng nhiều, bí trung đại tiện, bụng chướng, các quai ruột nổi, tăng nhu động, phản ứng thành bụng nhẹ.
TR: chưa thấy u, có phân
Siêu âm: các quai ruột dãn, ứ dịch, đường kính 3cm, sỏi thận T
Xquang: Hình ảnh mức nước hơi ruột non
Chẩn đoán ban đầu: Tắc ruột cao nghi do dính – sỏi thận T
Được cho làm các XN:
BC 4.77 G/L Neu 64.6%
HC 3.11 T/L HGB 108 g/l, HCT 31.2%
TC 268 G/L
Ure 7.0 mmol/l, creatinin 66 umol/l, protid 69 g/l, amylase 89 U/L, SGOT 24 U/L, SGPT 16 U/L, CRP 0.12 md/dl, Ca 2.26, Na 141, K 3.32, Cl 100.7
 XQ: hình ảnh mức nước hơi ở ruột non nhiều
Được xử trí ban đầu:
13/9/2013
Nhịn ăn hoàn toàn, đặt sonde dạ dày, sonde tiểu, thụt tháo đại tràng bằng nước muối ấm 2000ml
Dd Glucolyte II x 1000ml, TTM XXXg/p
Maxapim 1g x 2 lọ, TMC
Hyoscin 20mg x 1 lọ TMC
Pantonova 40mg x 1 lọ
 Tuy nhiên BN không chịu đặt sonde dạ dày,
14/9/2013
BN không chịu thụt tháo và đặt sonde dạ dày
T 37 độ C
Bụng còn đau, phản ứng thành bụng không rõ
XQ mức hơi nước
Dd Glucolyte II x 1500ml, TTM XXXg/p
Maxapim 1g x 2 lọ, TMC
15/9/2013
BN vẫn chưa chịu đặt sonde dạ dày
Chưa trung tiện
XQ mức nước hơi ruột non tăng dần, các quai ruột non dãn to
Dd Glucolyte II x 1500ml, TTM XXXg/p
Maxapim 1g x 2 lọ, TMC
Hyoscin 20mg x 1 ống TMC
16/9/2013
T 37 độ C
Bụng chướng, đề kháng không rõ ?, trung tiện được ???
Dd Glucolyte II x 1500ml, TTM XXXg/p
Maxapim 1g x 2 lọ, TMC
Perfalgan 1g 1 lọ truyền TM LX g/p
Fleet enema 1 ống bơm HM
BS tiếp tục cho y lệnh đặt sonde dạ dày và thụt tháo
XQ các quai ruột non chướng hơi, vài mức hơi dịch ??
Chẩn đoán: tắc ruột nghi do u
17/9/2013
T 37.3 độ C
Đau bụng từng cơn, sonde dạ dày ra dịch trong?, không sốt ?, bụng chướng hạ vị, phản ứng không rõ.
Dd Glucolyte II x 1500ml, TTM XXXg/p
Maxapim 1g x 2 lọ, TMC
Perfalgan 1g x 3 lọ truyền TM LX g/p
Tiếp tục y lệnh thụt tháo
CT scan bụng: các quai ruột dãn lớn, ứ dịch, có mức khí dịch, màng phổi hai bên có ít dịch, có ít dịch bao gan, vùng bẹn P có hình ảnh quai ruột.
18/9/2013
Bn tỉnh táo, không sốt, sonde dạ dày ra dịch trong, trung tiện được?, đạu bụng quặn từng cơn, bụng chướng vừa, có dấu quai ruột nổi, phản ứng thành bụng có.
Chẩn đoán: tắc ruột sau mổ
Ure 40 mmol/l, creatinin 69 umol/l, protid 53 g/l, SGOT 17 U/L, SGPT 9 U/L, Ca 1.93 mmol/l, Na 131 mmol/l, K 4.41 mmol/l, Cl 95.2 mmlol/l
Dd Glucolyte II x 1000ml, TTM XXXg/p
Maxapim 1g x 2 lọ, TMC
BN không đồng ý thụt tháo
Mời lãnh đạo khoa hội chẩn
Rối loạn điện giải, đau bụng nhiều từng cơn, có trung tiện, sonde dạ dày ra dịch xanh rêu
XQ hình ảnh mức nước hơi
Chẩn đoán: Tắc ruột do dính sau mổ điều trị nội không đáp ứng.
Cho y lệnh soạn mổ cấp cứu
Tường trình phẩu thuật 22h30 ngày 18/9/2013
Chẩn đoán trước mổ: TR do dính sau mổ
Chẩn đoán sau mổ: TR do thoát vị lỗ bịt gây hoại tử ruột
PPM: Giải phóng tạng thoát vị - cắt ruột nối tận tận – dẫn lưu Douglas
Rạch da đường trắng giữa trên dưới rốn, vào ổ bụng có dịch phân, tìm thấy một quai hồi tràng cách góc hồi manh tràng 80cm chui vào lỗ bịt P bị hoại tử thủng 2 lỗ d 1,5cm. Giải phóng quai ruột, cắt đoạn ruột hoại tử 10cm, nối tận tận. Khâu lại lỗ bịt. Dẫn lưu Douglas. Đóng bụng 2 lớp.
Điều trị Hậu phẫu
BN tỉnh, mệt mỏi, chán ăn, không chịu ăn, trung tiện được, chưa đại tiện, vết mổ khô, phù trắng mềm ấn lõm 2 bàn chân (phù suy dinh dưỡng).
Dd albumin human 50 ml x 1 chai
Dd Lipovenos x 500ml
Dd Glucose 20% x 500ml
Truyền chạc 3
Tienam 0,5g x 3 lọ, TTM
Metronidazole 0,5g x 2 lọ, TTM
Perfalgan 1g x 2 lọ, TTM
Pantonova 40 mg x 2 lọ, TMC
Sonde dạ dày rút vào ngày thứ 5
Ống dẫn lưu rút vào ngày thứ 7
XN 19/9/2013
BC 3.25 G/L Neu 82%
HC 2.77 T/L HGB 99 g/l, HCT 28.1%
TC 231 G/L
Ure 4.7 mmol/l, creatinin 70 umol/l, protid 44 g/l, amylase 89 U/L, Ca 1.72 mmol/l, Na 134 mmol/l, K 4.18 mmol/l, Cl 100.7 mmlol/l
                                                                              
Bàn luận
Bệnh nhân nữ, 80 tuổi, vào viện với các triệu chứng LS của TR, tiền sử có mổ VRT nên chẩn đoán ban đầu là TR do dính sau mổ và hướng điều trị bảo tồn là tương đối hợp lý. Tuy nhiên, trong quá trình điều trị, BN không hợp tác với nhân viên y tế, không chịu đặt sonde dạ dày, thụt tháo đại tràng, tiêm truyền thuốc... cùng với sự lơ là của người thân, chủ quan của nhân viên y tế... nên đã can thiệp phẫu thuật muộn (đã biến chứng hoại tử ruột gây VPM). 
Chẩn đoán trong mổ là TV lỗ bịt, đây là một bệnh lý thoát vị nội hiếm gặp, thường chỉ được chẩn đoán xác định trong mổ. Đối chiếu với y văn các biểu hiện lâm sàng cận lâm sàng như vậy là phù hợp.

                                                                              Nguyễn Đặng Đình Thi

Thứ Ba, 24 tháng 5, 2016

MỘT TRƯỜNG HỢP CHẤN THƯƠNG THẬN ĐỘ V

TÓM TẮT BỆNH ÁN
Bệnh nhân nam, Nguyễn Anh T.,48 tuổi, vào viện lúc 7h11, ngày 16/5/2016, do tuyến trước chuyển với chẩn đoán Vỡ thận T. Ghi nhận lúc vào viện: M 108 l/p, HA 85/60 mmHg, nước tiểu vàng trong, đau nhiều vùng hông trái. Siêu âm tại cấp cứu: Thận trái tăng âm mạnh, mất phân biệt tủy vỏ toàn bộ nhu mô thận, dịch tự do có hồi âm trong ổ bụng nhiều. Công thứ máu: Hồng cầu 3 T/L, HGB 106, HCT 32,3, BC 21 G/L, N 86%, TC 199 G/L, INR 0,98, PT% 103. Chẩn đoán ban đầu tại khoa Cấp cứu: Chấn thương bụng kín vỡ cực dưới thận trái/đa thương do tai nạn giao thông. Bệnh nhân được đưa vào khoa Ngoại tổng quát. Xử trí ban đầu: Ceftizoxim 1g x 2 lọ, dung dịch Natriclorid 0,9% x 1000ml + dung dịch Glucolyte II x 1000ml truyền tĩnh mạch L giọt/phút, Examin 250mg x 4 lọ.
Lúc 06h00 ngày 17/5/2016 ghi nhận: M 75 l/p, HA 130/80 mmHg, T 37oC, nước tiểu vàng trong 1500ml/20h. Tiếp tục thuốc như ngày 16/5. Bổ sung xét nghiệm:
CT scan bụng: thận trái đậm độ không đồng nhất, bờ mất liên tục, không ngấm thuốc cản quang sau tiêm, có sự thoát thuốc cản quang khỏi lòng mạch, tụ dịch nhiều quanh thận trái. Kết luận: Vỡ thận trái, đứt cuống thận trái + dịch ổ bụng nhiều.



Công thức máu lúc 18h21p ngày 17/5/2016: HC 1,49 T/L, Hgb 53, Hct 15,5%, BC 11,7 G/L, N 81%, TC 115 G/L, INR 0,85, PT% 126. Nhóm máu B, Rh+.Lúc 16h45p, M 120 l/p, HA 140/80 mmHg, T 38oC, NT 36 l/p, nước tiểu vàng trong 600ml/8h. Ure 8,9, Creatinin 144.
Chẩn đoán: Vỡ thận trái + nghi ngờ tổn thương cuống thận trái/Đa chấn thương do tai nạn giao thông.
Bệnh nhân được chỉ định mổ cấp cứu.
Tường trình: thận trái vỡ đôi, phần trên tương ứng nhóm đài trên và đài giữ, bao gồm cuống thận vẫn còn nguyên, phần dưới tương ứng cực dưới . Máu mất ra xung quanh khoảng 2000ml. Bệnh nhân được bơm máu trực tiếp vào tĩnh mạch trong mổ khoảng 2 đơn vị HC khối và tiếp tục truyền thêm sau mổ khoảng 4 đợn vị HC khối.
Giải phẫu bệnh lý: Đại thể:  thận vỡ 2 mảnh kích thước 8x6x6cm, và 7x6x5cm. Vi thể: Nhu mô thận có cấu trúc bình thường, rãi rác khắp nơi là những ổ xuất huyết lan rộng trong nhu mô thận.
Sáng 18/5: Công thức máu sau truyền máu đã ổn định. Ure 6,8, Creatinin 131.
19/5: nươc tiểu 1500ml/24h
20/5: nước tiểu 5000ml/22h
21/5: nước tiểu 3800ml/22h
22/5: nước tiểu 2800ml/23h






BÀN LUẬN







Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2015

Một trường hợp u Wilm thận P

Bệnh nhi nam, 13 tháng tuổi, vào viện vì đau bụng P 3 ngày kèm sốt 38,5 độ C kèm nôn mửa, bỏ ăn. Khám lâm sàng thấy khối gồ bụng P, ấn đau nhiều, phản ứng thành bụng không rõ. Thăm trực tràng bình thường. Siêu âm bụng có khối viêm nhiễm vùng bụng phải chưa loại trừ lồng ruột. CT scan khối u thận P lớn.
Chẩn đoán ban đầu: TD u Wilm thận P





Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2015

KHỐI LƯỢNG MÔ TUYẾN CẮT ĐƯỢC Ở BỆNH NHÂN PHÌ ĐẠI LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT



KHỐI LƯỢNG MÔ TUYẾN CẮT ĐƯỢC
Ở BỆNH NHÂN PHÌ ĐẠI LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT
Nguyễn Đặng Đình Thi*
TÓM TẮT
Mục tiêu: khảo sát khối lượng mô tuyến cắt được trong mổ phì đại lành tính tuyến tiền liệt nội soi qua niệu đạo và kết quả điều trị 3 tháng sau mổ.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiền cứu mô tả 68 bệnh nhân được chẩn đoán và mổ phì đại lành tính tuyến tiền liệt nội soi qua niệu đạo. Ghi nhận khối lượng mô tuyến cắt được và đánh giá kết quả điều trị vào thời điểm 3 tháng sau mổ theo tiêu chuẩn Yukio Homma. Kết quả nghiên cứu: khối lượng mô tuyến cắt được 13,75 ± 8,03g, tỷ lệ khối lượng mô tuyến cắt được 29,3±13,1%, kết quả điều trị theo Yukio Homma: rất tốt 50,95%, tốt 29,70%, khá 11,33% và xấu 8,02%. Kết luận: khối lượng mô tuyến cắt được < 30% khối lượng tuyến tiền liệt trước mổ. Kết quả điều trị 3 tháng sau mổ đạt mức tốt > 80% theo tiêu chuẩn của Yukio Homma.
THE WEIGHT OF TISSUE REMOVED AT TRANSURETHRAL RESECTION
 IN BENIGN PROSTATIC HYPERPLASIA
Nguyen Dang Dinh Thi*
(*) Thạc sĩ, Bác sĩ, khoa Ngoại tổng quát, BVĐK Tỉnh Khánh Hòa, điện thoại 0982008599, Email: thinguyenmd@gmail.com
TOÀN VĂN
GIỚI THIỆU
Phì đại lành tính tuyến tiền liệt (u xơ tuyến tiền liệt) là một u lành tính, xuất hiện phổ biến ở nam giới khi tuổi đã cao. Tại Việt Nam tần suất xuất hiện bệnh > 50%  nam giới trên 50 tuổi [5]. Điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt bao gồm: theo dõi - chờ đợi, nội khoa ngoại khoa [7]. Trong các phương pháp điều trị ngoại khoa, phẫu thuật cắt phì đại lành tính tuyến tiền liệt nội soi qua niệu đạo là phương pháp được sử dụng nhiều nhất và được xem là “tiêu chuẩn vàng” trong điều trị [7]. John Blandy đề nghị nên cắt bỏ triệt để mô tuyến cho đến sát vùng “vỏ phẫu thuật” để khối lượng mô tuyến lấy ra qua nội soi có thể gần như tương đương với khối lượng bệnh phẩm trong mổ mở. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu với một kỹ thuật cắt thống nhất sau đó cân khối lượng mô tuyến cắt được theo cùng một qui trình. Sau mổ 3 tháng, chúng tôi đánh giá kết quả điều trị đồng thời so sánh kết quả của chúng tôi với các tác giả trong và ngoài nước để từ đó đưa ra kết luận.
Nghiên cứu tiền cứu mô tả trên 68 bệnh nhân được chỉ định mổ cắt tiền liệt tuyến nội soi qua niệu đạo. Có kết quả giải phẫu bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt, Qmax trước mổ < 12 ml/s, IPSS > 12, QoL > 3[2].
Phương pháp nghiên cứu:
Phương tiện: Máy cắt đốt nội soi niệu hiệu Karl Stort 24 Fr. Optique 30 độ. Máy niệu dòng đồ URODYN 1000. Cân tiểu li 200g, độ chính xác 0,1g. Chuẩn bị bệnh nhân: khảo các thông số gồm: khối lượng tuyến tiền liệt (KLTLT), khối lượng mô tuyến cắt được (KLMTCĐ), điểm triệu chứng quốc tế (IPSS), điểm chất lượng sống (QoL), lưu lượng dòng tiểu tối đa (Qmax) theo các qui trình đúng nguyên tắc[3], [4], [11], [14]. Kỹ thuật cắt tiền liệt tuyến nội soi qua niệu đạo [6]. Giới hạn cắt là từ cổ bàng quang đến giới hạn trên của lồi tinh. Tiến hành cắt tại cổ bàng quang trước cho đến giới hạn trên của lồi tinh, gọt tỉa diện cắt đốt trong lô tuyến với nguyên tắc tạo một đường hầm đủ rộng từ cổ bàng quang đến lồi tinh sao cho trên một mặt phẳng phẫu trường phải quan sát được cả lồi tinh và cổ bàng quang. Qui  trình lấy mô tuyến cắt được: tất cả mô tuyến cắt ra được gom lại để rửa sạch máu cục và dị vật. Mô tuyến được để trên một tấm gạc cho ráo nước sau 5 phút và cân. Ghi nhận khối lượng mô tuyến cắt được (KLMTCĐ), đơn vị gram(g). Phần mô tuyến bị đốt cháy trong mổ không gom lại được xem như cân bằng với lượng nước ngấm vào phần mô tuyến được cắt còn lại. Tất cả các bệnh nhân sau mổ đều được mời tái khám sau 3 tháng.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
1. Khối lượng mô tuyến cắt được và Khối lượng tuyến tiền liệt trước mổ
Bảng 1. Khối lượng mô tuyến cắt được và Khối lượng tuyến tiền liệt trước mổ
Tỷ lệ khối lượng mô tuyến cắt được
Khối lượng tuyến tiền liệt trước mổ(KLTTL) (g)
Nhóm ≤ 30 g
Nhóm 30-50 g
Nhóm ≥ 50 g
Tổng
≤ 30%
9
22
11
42(61,8%)
30- 40%
1
6
9
16(23,5%)
40-50%
1
2
3
6(8,8%)
≥ 50%
0
3
1
4(5,9%)
Tổng
11(16,2%)
33(48,5%)
24(35,3%)
29,3±13,1%
KLTTL trước mổ 48,31±19,02g. KLTTL trước mổ trong nghiên cứu của chúng tôi tương tự với các tác giả trong và ngoài nước (Nguyễn Hoàng Đức, 52±24g (22-134g) [3]; Oliver Hakenberg (2001) 49±22g (13-140g) [10]) (p>0,05).
Khối lượng mô tuyến cắt được 13,75±8,03 g; cao nhất 41,1g; thấp nhất 3,1g. Tỷ lệ KLMTCĐ 29,3±13,1%; dưới 30% có  42 bệnh nhân chiếm (61,8%), từ 30–40% có 16 bệnh nhân chiếm (23,5%), từ 40-50% và trên 50% có 10 bệnh nhân chiếm 14,7%.
Nhóm KLTTL ≤ 30g có 11 bệnh nhân (16,2%), KLMTCĐ < 30% là 9 bệnh nhân.
Nhóm KLTTL 30-50g có 33/68 bệnh nhân (48,5%), KLMTCĐ < 30% là 22 bệnh nhân.
Nhóm trên 50g có 24 bệnh nhân (35,3%), KLMTCĐ < 30% là 11 bệnh nhân.
So với Nguyễn Hoàng Đức (2003) với 67 bệnh nhân ghi nhận KLMTCĐ 24±14g[3]; Oliver Hakenberg (2001) với 138 bệnh nhân ghi nhận KLMTCĐ 24,7±18 g (6-128 g)[10] thì kết quả của chúng tôi nhỏ hơn (p<0,05). So với Tae Im Kim (2010) trong một nghiên cứu tương tự với KLMTCĐ 14.6±14.1g[12] thì kết quả của chúng tôi là tương đương (p>0,05). Thống kê của Green (1996) KLMTCĐ là 25,6g, tác giả nhận thấy rằng: mặc dù tỷ lệ KLMTCĐ dường như tỷ lệ thuận với khối lượng tuyến tiền liệt nhưng trong nhiều nghiên cứu được công bố, các phẫu thuật viên thường không cắt được hơn 50% khối lượng tuyến tiền liệt[9]. Như vậy: khối lượng mô tuyến cắt được của chúng tôi < 30% chiếm đa số các trường hợp và KLMTCĐ có tăng lên tùy thuộc vào KLTTL trước mổ. Như vậy KLMTCĐ trong nghiên cứu của chúng tôi là tương đương với nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước.
2. Kết quả điều trị 3 tháng sau mổ:
2.1. Sự cải thiện triệu chứng theo tiêu chí của Yukio Homma [11]
Bảng 2. Sự cải thiện triệu chứng sau mổ theo tiêu chí của Yukio Homma
Các tiêu chí đánh giá
(n = 53)
Trung bình
Trước mổ
Tái khám
Biên độ cải thiện
 Triệu chứng IPSS
27,54 ± 3,89
6,30 ± 2,83
21,24 ± 4,73
 Chức năng Qmax
6,57 ± 3,16
12,9 ± 5,26
6,33 ± 5,21
 Giải phẫu KLTTL
49,01 ± 19,31
32,54 ± 12,45
16,47 ± 15,49
 Chất lượng sống QoL
5,47 ± 0,69
0,43 ± 0,74
5,03 ± 0,92
IPSS tái khám đạt 6,3±2,83, biên độ cải thiện IPSS 21,24±4,73. QoL tái khám 0,43±0,74, biên độ cải thiện QoL 5,03±0,92. ­Qmax tái khám 12,9±5,26ml/s, biên độ cải thiện Qmax 6,33±5,21ml/s. ­KLTTL tái khám 16,47±15,49g. Sự cải thiện triệu chứng được kiểm tra bằng tét t ghép cặp đều có ý nghĩa thống kê (p<0,0001). Nguyễn Ngọc Hiền (2003) ghi nhận kết quả khi tái khám 3 tháng sau cắt nội soi: Qmax 14,7±2,4 ml/s[4]. Nguyễn Hoàng Đức (2003) ghi nhận: IPSS 4±2, biên độ cải thiện 22±5; Qmax 18±6ml/s, biên độ cải thiện 10±6,7 ml/s [3]. Oliver Hakenberg (2003) ghi nhận: sau 3 tháng biên độ cải thiện IPSS đạt 10,87; biên độ cải thiện Qmax đạt 7,06 ml/s [12]. Alberto Anturnes (2009) sau 3 tháng ghi nhận sự cải thiện IPSS từ 23,0 ± 5,6 còn 5,9±4,6 và biên độ cải thiện 17,1±0,7; QoL từ 4,9±1,0 còn 1,2±1,0 với biên độ cải thiện 3,7±0,3 [8].
2.3. Kết quả điều trị theo Yukio Homma
Kết quả điều trị 3 tháng sau mổ được đánh giá dựa vào sự cải thiện của triệu chứng, chức năng, giải phẫu và chất lượng cuộc sống theo Homma Yukio [11].
Bảng3. Đánh giá kết quả điều trị theo Yukio Homma vào thời điểm 3 tháng sau mổ
Hiệu quả
Rất tốt
Tốt
Khá
Xấu
Tổng
n
%
n
%
n
%
n
%
Triệu chứng
37
69,8
14
26,4
2
3,8
0
0,0

53
100%

Chức năng
10
18,9
24
45,3
13
24,5
6
11,3
Giải phẫu
12
22,6
21
39,6
9
17,0
11
20,8
Chất lượng sống
49
92,5
4
7,5
0
0,0
0
0,0
Tổng hợp
50,95%
29,70%
11,33%
8,02%
Theo bảng 3, kết quả điều trị xét theo sự cải thiện về triệu chứng: khá đến rất tốt 100%; về chức năng: khá đến rất tốt 88,7%, xấu 11,3%; về giải phẫu: khá đến rất tốt 79,2%, xấu 20,8% và theo sự cải thiện về chất lượng cuộc sống: 100% từ tốt đến rất tốt. Yoshinori Tanaka (2006) cũng cho thấy kết quả điều trị xét theo sự cải thiện về triệu chứng là từ khá đến rất tốt chiếm 88,1%, xấu 11,9%; về chức năng từ khá đến rất tốt chiếm 79,3%, xấu 20,7%; và theo chất lượng cuộc sống, 89,1% từ tốt đến rất tốt, xấu 10,9% [15]. Như vậy, nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy kết quả điều trị xấu chỉ hiện diện ở nhóm chức năng và giải phẫu.  Tổng hợp kết quả điều trị theo tiêu chuẩn Yukio Homma và cộng sự: kết quả rất tốt 50,95%, tốt 29,70%, khá 11,33% và xấu 8,02%. Nguyễn Trường An (2008) nghiên cứu trên 34 bệnh nhân ghi nhận: kết quả rất tốt chiếm 61,6%, tốt 32,5%, khá 5,9% và không có kết quả xấu [1]. Yoshinori Tanaka (2006) nghiên cứu trên 92 bệnh nhân ghi nhận kết quả: rất tốt 44,6%, tốt 31,5%, khá 10,9% và xấu 13,0% [15]. Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả trên (p > 0,05).
Như vậy, dường như khối lượng mô tuyến cắt được nhiều hay ít cũng phần nào có ảnh hưởng đến sự cải thiện KLTTL vào thời điểm tái khám sau 3 tháng thể hiện qua kết quả xấu có phần tăng nhẹ khi phân loại kết quả ở nhóm Giải phẫu. Tuy vậy KLMTCĐ cũng không ảnh hưởng nhiều tới kết quả điều trị chung với > 90% từ khá đến rất tốt.
BÀN LUẬN:
Có khá nhiều nghiên cứu về khối lượng mô tuyến cần thiết phải cắt trong mổ PĐLTTTL nội soi qua niệu đạo, và liệu có cần thiết phải cắt với khối lượng tương đương với mổ hở hay không thì vẫn chưa có câu trả lời chính xác. Theo Green (1996): trong nhiều nghiên cứu được công bố, các phẫu thuật viên thường không cắt được hơn 50% khối lượng tuyến tiền liệt[9]. Alberto Anturnes (2009) cho rằng: khối lượng mô tuyến cắt được < 30% khối lượng TTL ban đầu dường như đủ để giảm nhẹ các triệu chứng bế tắc đường tiểu dưới ở bệnh nhân phì đại lành tính tuyến tiền liệt và khối lượng mô tuyến cắt được > 50% lại có sự giảm nhẹ nhiều hơn về điểm QoL[8]. Daimantas (2010) cho rằng: nên cắt hoàn toàn nếu có thể hoặc với ít nhất là 30% thể tích tuyến tiền liệt trước mổ. Các thông số như: tỷ lệ khối lượng tuyến tiền liệt còn lại và khối lượng tuyến tiền liệt còn lại rất quan trọng trong việc tiên đoán kết quả phẫu thuật[13]. Trong khi đó, Hakenberg(2001) nghiên cứu 138 bệnh nhân chỉ ra rằng không có sự tương quan giữa sự cải thiện triệu chứng lâm sàng với tỷ lệ khối lượng mô tuyến cắt được cũng như khối lượng TTL còn lại sau mổ[10]. Như vậy, phần lớn các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy KLMTCĐ trong mổ nội soi qua niệu đạo thường không vượt quá 50% so với khối lượng tuyến tiền liệt ban đầu và sự cải thiện triệu chứng lâm sàng dường như cũng không phụ thuộc vào KLMTCĐ. Nguyên tắc trong mổ là nhằm tạo một đường hầm đủ rộng từ cổ bàng quang đến lồi tinh sao cho trên một mặt phẳng phẫu trường phải quan sát được cả lồi tinh và cổ bàng quang kết hợp với KLMTCĐ > 30% sẽ giúp cải thiện các triệu chứng lâm sàng tốt hơn.
KẾT LUẬN: Khối lượng mô tuyến cắt được trung bình < 30% khối lượng tuyến tiền liệt trước mổ. Với kỹ thuật cắt tạo một đường hầm đủ rộng từ cổ bàng quang đến ụ núi tuyến tiền liệt thì khối lượng mô tuyến cắt được dường như không có ảnh hưởng nhiều đến kết quả điều trị 3 tháng sau mổ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.        Nguyễn Trường An (2008), “Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt u lành tính tuyến tiền liệt bằng nội soi qua niệu đạo”, Tạp chí Y học Tp Hồ Chí Minh, 12(4), tr. 187-192.
2.        Nguyễn Văn Ân (2003), “Đại cương về các phép đo niệu động học”,
Tạp chí Y học Tp Hồ Chí Minh, 7(2), tr. 68-74.
3.        Nguyễn Hoàng Ðức, Ðào Quang Oánh (2003), “Mối tương quan giữa khối lượng mô tuyến cắt qua nội soi với sự cải thiện triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân bướu lành tiền liệt tuyến”, Tạp chí Y học Tp Hồ Chí Minh, 7(1), tr. 56-61.
4.        Nguyễn Ngọc Hiền, Tôn Thất Minh Thuyết (2003), “Sử dụng niệu dòng đồ trong chỉ định và đánh giá kết quả phẫu thuật u tuyến tiền liệt”, Tạp chí Y học Tp Hồ Chí Minh, 7(1), tr. 44-49.
5.        Trần Đức Hòe (1996), “Kết quả điều tra dịch tễ học u xơ tuyến tiền liệt”, Tạp chí Y học quân sự, 2, tr. 69-74.
6.        Đào Quang Oánh, Nguyễn Hoàng Đức (2002), “Tổng quan về các kỹ thuật cắt tiền liệt tuyến qua ngã niệu đạo”, Tạp chí Y học Tp Hồ Chí Minh, 6(1), tr. 19-24.
7.        American Urological Association (2010), “AUA guideline on the management of benign prostatic hyperplasia”, American Urological Association Education and Research, pp. 1-34.
8.        Anturnes A.A., Srougi M., Coelho F.R., Leite R.K., de C.Freire G. (2009), “Transurethral resection of the prostate for the treatment of  lower urinary tract symptoms related to benign prostatic hyperplasia: How much should be resected?”, International Brazil J urol, 35(6), pp. 683-691.
9.        Green J.S.A., Bose P., Thomas D.P., Thomas K., Clements R., Peeling W.B., Bowsher W.G. (1996), “How complete is a transurethral resection of the prostate?”, British Journal of Urolory, 77(3), pp. 398-400.
10.    Hakenberg O.W., Helke C., Manseck A., Wirth M.P. (2001), “Is there a relationship between the amount of tissue removed at transurethral resection of the prostate and clinical improvement in benign prostatic hyperplasia”, European urology, 39, pp. 412-417.
11.    Homma Y., Kawabe K., Tsukamoto T., Yamaguchi O., Okada K., Aso Y., Watanabe H., Okajima E., Kumazawa J., Yamaguchi T., Ohashi Y. (1996), “Estimate criteria for efficacy of treatment in benign prostatic hyperplasia”, Int J Urol, 3(4), pp. 267-273.
12.    Kim T. I., Jae M.S., Chung H.C. (2010), “Analysis of the factors causing bladder irrigation after transurethral resection of the prostate”, Korean journal of urology, 51, pp. 700-703.
13.    Milonas D. (2010),“Significance of operative parameters on outcomes after transurethral resection of the prostate”, Medicina (Kaunas), 46(1), pp. 24-29.
14.    Shoukry I., Susset G.J., Elhilali M.M., Dutartre D. (1975), “Role of  uroflowmetry in the assessment of lower urinary tract obstruction in adult males”, Bristish Journal of Urology, (47), pp. 559-572.
15.    Tanaka Y., Masumori N., Itoh N., Furuya S., Ogura H., Tsukamoto T. (2006), “Is the short-term outcome of transurethral resection of the prostate affected by preoperative degree of bladder outlet obstruction, status of detrusor contractility or detrusor overactivity?”, International Journal of Urology, 13, pp. 1398-1404.